HomeTâm LinhLinh hồn là gì? Gọi hồn là gì? Có nên gọi hồn...

Linh hồn là gì? Gọi hồn là gì? Có nên gọi hồn người đã khuất hay không?

Linh hồn là gì? Gọi hồn là gì? Rất nhiều gia đình Việt Nam có thói quen lâu lâu gọi hồn để nói chuyện, ghi âm về cho gia đình, con cháu nghe nhưng họ không biết rằng điều này thực sự là lợi bất cập hại.

1. Linh hồn là gì?

Quan niệm tâm linh cho rằng con người luôn có 2 phần là phần hồn và phần xác. Phần hồn tức là linh hồn (mang tính phi vật chất). Phần xác là thể xác (chân, tay, mắt, mũi, râu, tóc,…mang tính vật chất). Sau khi con người chết đi thì linh hồn sẽ được siêu thoát (tách khỏi phần thể xác).

Theo đạo Phật, số phận con người sau khi chết ra sao phụ thuộc vào cách sống của người đó trong cõi người. Khi sống làm nhiều việc thiện, tích nhiều công đức thì sau khi chết đi hồn sẽ được thanh thản về lại với đất trời – đó là một trong sáu cõi: cõi trời, cõi thần, cõi người, cõi súc sinh, cõi quỷ đói, địa ngục. Người càng tốt thì hồn sẽ về những cõi cao, còn ngược lại làm điều xấu, sống gian ác thì sẽ bị đày vào chốn tăm tối vào những cõi thấp.

Sau khi chết, những người có phúc đức lớn sẽ ngay lập tức được về cõi trời hoặc cõi thần, cũng như những người phạm tội cực ác sẽ bị đày vào địa ngục, còn lại đa số những người bình thường khác đều không thể lập tức chuyển sinh mà phải chờ 49 ngày.

Linh hồn, tiếng Hy Lạp là Psyche, nghĩa là sự sống, tinh thần, ý thức. Socrates bảo linh hồn là tinh thể (Essence). Platon giảng rằng linh hồn bao gồm lý trí (Logos), tình cảm (Thymos) và ái dục (Eros). Aristote định nghĩa linh hồn là hoạt tính của một cơ thể sống và cho rằng linh hồn sẽ mất đi khi cơ thể không còn nữa, giống như hoạt tính của con dao là cắt, khi con dao bị hư hoại thì hoạt tính cắt không còn nữa (xem De Anima – Về linh hồn).

Phật giáo luận theo ngôn ngữ, tín ngưỡng của dân gian, vẫn nói đến linh hồn, vong linh, hương linh… để chỉ cái phần còn lại sau khi chết của một người. Nhưng dù gọi là gì đi nữa thì theo giáo lý duyên sinh , vô thường, vô ngã, Phật giáo không bao giờ chủ trương cái phần phi vật chất này, hay linh hồn, là thường hằng, bất diệt. Theo Phật giáo, linh hồn là tính biết, cái biết, sự nhận thức, tư duy…, gọi chung là Thức. Thức bao gồm một nội dung được xem là những dấu ấn, những hạt mầm (chủng tử – bija) được tạo nên bởi những hành tác của một người trong đời sống hiện tại và những đời sống trước kia, còn được gọi là nghiệp hay nghiệp thức.

Phật giáo gọi linh hồn là Thức hay Nghiệp thức do vô minh từ vô thỉ mà có. Nó là vọng thức, luôn luôn vận hành, biến đổi theo hoàn cảnh và hành tác của một người, và là động lực khiến chúng sanh trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Do tu tập, Thức sẽ biến thành Trí tuệ tuyệt đối, thành Giải thoát tối hậu, chấm dứt sinh tử, chứng đạt Niết bàn.

2. Gọi hồn là gì?

Gọi hồn là việc kêu gọi linh hồn của một người đã chết quay trở về để nói chuyện với người đang sống. Người ta tin rằng một số người có khả năng đặc biệt có thể giao lưu được với người ở thế giới tâm linh mà ta vẫn thường gọi là thầy cúng hoặc người có khả năng ngoại cảm (nhà ngoại cảm).

Khái niệm gọi hồn được hiểu như sau: Nhà ngoại cảm sẽ “làm phép” để linh hồn người đã chết có thể nhập vào thể xác của một người còn sống. Qua đó người bình thường có thể giao lưu, nói chuyện được với linh hồn của người đã chết. Thể xác đó có thể là chính nhà ngoại cảm nhưng cũng có thể là người nhà của người đã chết.

3. Có nên gọi hồn người chết hay không?

Theo quan điểm Phật giáo, người chết rồi quan trọng nhất là được sớm đầu thai để bắt đầu cuộc sống khác. Cõi âm chỉ như một trạm dừng nghỉ tạm thời trước khi chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, không ai ở đấy mãi, nên không nên chú trọng đến nó quá. Có người đầu thai ngay khi vừa chết, còn không thì nội trong 49 ngày sẽ đầu thai, có những trường hợp sẽ lâu hơn, mà nhiều khi lâu hơn là do người trần níu kéo.

Lên cõi trời thì không gọi hồn được, vào địa ngục, người, súc sinh cũng không gọi hồn được. Chỉ có tái sinh lên cõi thần hoặc vào cõi ngạ quỷ mới gọi hồn được, thông thường gọi hồn được thì hồn ấy thường là ngạ quỷ, vì các cô đồng thì chưa đủ sức để triệu những vị thần về được.

Tái sinh vào cõi ngạ quỷ, hồn có thể về, nhưng có khẳng định được hồn ấy là bố mẹ, là thân nhân của mình không thì chưa biết, có khi là ngạ quỷ khác về, nhưng tự xưng là người thân nhà mình, họ cũng biết hết mọi chuyện nhà mình.

Nếu gọi hồn chỉ để hỏi người chết có thiếu gì không, có ước nguyện gì không sẽ là không có ích gì vì sau khi đầu thai họ đã quên sạch rồi, còn nếu đang ở ngạ quỷ mà chúng ta càng khơi gợi thêm lòng tham đắm trong họ thì không biết bao giờ mới được giải thoát khỏi ngạ quỷ.

Người chết càng hoang mang hay lưu luyến thân xác cũ và người thân, đáng lẽ nên đi đầu thai để có cuộc sống mới thì lại cứ vất vưởng lang thang, cộng thêm việc người thân gọi hồn làm níu kéo lại càng chậm trễ việc đầu thai. Thành ra gọi hồn lúc này không những không có lợi mà còn có hại. Thay vì gọi hồn thì hãy cầu mong người thân sớm được đầu thai và đầu thai vào cõi tốt hơn.

Chính vì lẽ này nên nhà Phật cấm không cho gọi hồn, hãy để người chết được yên. Cho nên muốn tốt cho người đã mất thì tốt nhất là làm các việc tốt tạo phước, tích phúc tích đức, trì Kinh, niệm Phật, sám hối cho vong hồn người mất.

Trường hợp người chết đã chết lâu rồi, 2-3 năm (giả sử không có oan khuất đã đầu thai kiếp khác rồi) tại sao vẫn gọi hồn được? Một là vì phần hồn chưa tan biến hết (cũng như phần xác chưa phân hủy hết) nên các bà đồng vẫn có thể tạo được liên kết với những phần hồn còn sót lại đó và lấy được thông tin từ đó, giống như dữ liệu trong một ổ đĩa hỏng, có thể tìm cách lấy thông tin ra nhưng không ghi thêm được vào.

Hai là nếu phần hồn đã tan biến hết thì bà đồng có thể liên kết với phần hồn của chính người thân đến nhờ gọi hồn để lấy thông tin. Dựa vào các thông tin này bà đồng có thể đóng vai người chết nói chuyện với gia quyến, chuyện “thâm cung bí sử” chỉ người nhà mới biết.

Thật ra thì tất cả chỉ có vậy, chỉ là những thông tin cũ, phần hồn chưa tan biến hết đó không thể tự phát sinh nhu cầu cần quần áo, tiền bạc, không thể đoán trước được tương lai.

Nhưng do người nhà đã tin rồi, nên phần sau thì bà đồng yêu cầu đặt lễ nhiều, hoặc thậm chí là đòi lập đàn cúng bái tế lễ hoặc đơn giản chỉ là làm ra vẻ quan trọng để nâng cao danh tiếng. Trong bối cảnh cầu cúng mang sắc thái thần quyền đang nở rộ hiện nay, chúng ta cần có chính kiến trong việc thờ cúng để khỏi rơi vào tà kiến, mê tín dị đoan.

Theo giáo lý Nhân quả – Nghiệp báo, những nỗ lực của người thân hướng về hương linh như tạo phước, cầu nguyện… trợ duyên, ảnh hưởng tốt đến hương linh được phần nào thôi chứ không can thiệp sâu vào khuynh hướng tái sinh của họ. Vì mỗi người đều phải ‘thừa tự’ nghiệp lực của chính mình. Để được giải thoát, tự thân hương linh phải tỉnh thức và hướng thiện. Không ai có thể cứu vớt chúng ta ngoại trừ những nỗ lực tu tập của chính chúng ta.

Do vậy, khi người thân mất đi, trách nhiệm của mỗi Phật tử, người thân trong gia đình là tận tâm dốc lòng cầu nguyện và tạo phước để hồi hướng, mong hương linh siêu thoát. Còn siêu thoát hay không là do sự tỉnh thức chuyển hóa nghiệp lực của chính họ, thân nhân chỉ trợ duyên mà không thể can thiệp được. Cho nên, không cần gọi hồn, triệu hồn, cầu hồn hay các phương pháp tương tự vì không mang đến lợi ích thiết thực cho hương linh và chỉ tốn kém, gây lo lắng hoang mang thêm cho thân nhân. Mỗi người Phật tử cần có chính kiến trong những sự việc tương tự để khỏi rơi vào tà kiến, mê tín dị đoan.

Theo heochuoi.com/TH!

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

TIN MỚI