HomeSức KhỏeBệnh ung đại tràng: Các dấu hiệu nguy cơ mắc ung thư...

Bệnh ung đại tràng: Các dấu hiệu nguy cơ mắc ung thư đại tràng

Với sự cải thiện của điều kiện kinh tế, đời sống được nâng cao, tỷ lệ mắc khối u đại tràng cũng tăng lên hàng năm, kiến nghị mọi người nên cảnh giác.

Đại tràng bao gồm kết tràng và trực tràng, dài khoảng 1,2 – 1,5 mét, nằm xung quanh bụng và nối với hậu môn. Đại tràng là một bộ phận có tỉ lệ mắc bệnh cao. Với sự cải thiện của điều kiện kinh tế, đời sống được nâng cao, tỷ lệ mắc khối u đại tràng cũng tăng lên hàng năm, kiến nghị mọi người nên cảnh giác.

Ung thư đại tràng thường xuất hiện ở người lớn tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Bệnh thường bắt đầu như những khối tế bào nhỏ, lành tính được gọi là polyp hình thành ở bên trong đại tràng. Theo thời gian một số polyp này có thể trở thành ung thư ruột kết. Vậy nguy cơ gây ung thư đại tràng nào khiến tăng khả năng mắc loại ung thư này?

1. Yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng có thể thay đổi

Thừa cân hoặc béo phì

Nếu bạn thừa cân hoặc béo phì sẽ có nguy cơ phát triển và tử vong do ung thư đại trực tràng sẽ cao hơn những người có cân nặng bình thường. Thừa cân (đặc biệt là có vòng eo lớn hơn) làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng và trực tràng ở cả nam và nữ, nhưng mối liên kết dường như mạnh hơn ở nam giới.

Không tập thể dục

Nếu bạn không hoạt động thể chất, bạn có nhiều khả năng bị ung thư ruột kết. Do đó, tập thể dục hoặc hoạt động thể chất tích cực hơn có thể giúp giảm nguy cơ của bạn.

Một số loại chế độ ăn kiêng

Chế độ ăn nhiều thịt đỏ (như thịt bò, thịt lợn, thịt cừu hoặc gan) và các loại thịt chế biến sẵn (như xúc xích và một số loại thịt hộp) làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.

Nấu thịt ở nhiệt độ rất cao (chiên, nướng hoặc quay) sẽ tạo ra các hóa chất có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra liệu yếu tố này có thể làm tăng bao nhiêu nguy cơ ung thư đại trực tràng. Và liệu các thành phần chế độ ăn uống khác (ví dụ, một số loại chất béo) có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư đại trực tràng hay không.

Hút thuốc lá

Những người đã hút thuốc lá trong một thời gian dài có nguy cơ mắc bệnh và tử vong vì ung thư đại trực tràng cao hơn so với những người không hút thuốc. Hút thuốc là một nguyên nhân hàng đầu của ung thư phổi, nhưng nó cũng liên quan đến rất nhiều bệnh ung thư khác.

Nghiện rượu nặng

Ung thư đại trực tràng có liên quan đến việc sử dụng rượu ở mức độ vừa đến nặng. Hạn chế sử dụng rượu bia không quá 2 ly mỗi ngày đối với nam giới và 1 ly mỗi ngày đối với phụ nữ có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, bao gồm giảm nguy cơ mắc nhiều loại ung thư.

2. Yếu tố nguy cơ gây ung thư đại trực tràng không thể thay đổi

Lớn tuổi hơn

Nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng lên theo tuổi. Những người trẻ hơn cũng có thể mắc bệnh này, nhưng ung thư đại trực tràng phổ biến hơn nhiều sau 50 tuổi.

Có polyp đại trực tràng hoặc ung thư đại trực tràng

Nếu có tiền sử mắc polyps tuyến (Adenomatous polyps) thì bạn có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Điều này đặc biệt đúng nếu bạn có polyp với số lượng nhiều hoặc kích thước lớn hoặc nếu bất kỳ trong số chúng có loạn sản.

Nếu bạn đã bị ung thư đại trực tràng, mặc dù ung thư đã được loại bỏ hoàn toàn thì bạn vẫn có nhiều khả năng phát triển bệnh ung thư mới ở các phần khác của đại tràng và trực tràng. Khả năng này xảy ra sẽ lớn hơn nếu bạn bị ung thư đại trực tràng khi còn trẻ tuổi.

Tiền sử bệnh viêm ruột (inflammatory bowel disease)

Nếu bạn bị bệnh viêm ruột (IBD), bao gồm cả viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn, nguy cơ ung thư đại trực tràng của bạn sẽ tăng lên.

IBD là tình trạng đại tràng bị viêm trong một thời gian dài. Những người đã bị IBD trong nhiều năm, đặc biệt là nếu không được điều trị, thường phát triển thành chứng loạn sản. Chứng loạn sản là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả các tế bào trong niêm mạc đại tràng hoặc trực tràng bất thường, nhưng không phải là tế bào ung thư thực sự. Tuy nhiên, theo thời gian, các tế bào này có thể thay đổi thành ung thư thực sự.

Tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến

Hầu hết các bệnh ung thư đại trực tràng được tìm thấy ở những người không có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, gần 1 trong 3 người bị ung thư đại trực tràng có các thành viên khác trong gia đình đã mắc bệnh này.

Những người có tiền sử ung thư đại trực tràng ở người thân trực hệ (cha mẹ, anh chị em hoặc con cái) có nguy cơ cao hơn. Nguy cơ thậm chí còn cao hơn nếu người thân đó được chẩn đoán mắc bệnh ung thư khi họ dưới 45 tuổi hoặc nếu có nhiều hơn một người thân độ một bị mắc bệnh này.

Nguyên nhân cho sự gia tăng nguy cơ không rõ ràng trong mọi trường hợp. Ung thư có thể di truyền trong gia đình vì các gen được di truyền, sống chung trong một môi trường hoặc một số trường hợp là sự kết hợp giữa các yếu tố nguy cơ lại với nhau.

Có thành viên gia đình đã có polyp tuyến cũng có liên quan đến nguy cơ ung thư ruột kết cao hơn. Nếu bạn có tiền sử gia đình mắc bệnh polyp tuyến hoặc ung thư đại trực tràng, hãy nói chuyện với bác sĩ về việc có thể bắt đầu sàng lọc ung thư trước tuổi 45.

Có hội chứng di truyền

Khoảng 5% những người bị ung thư đại trực tràng đã di truyền những thay đổi gen (đột biến) gây ra hội chứng ung thư gia đình cho thế hệ sau và có thể khiến con cái họ mắc bệnh.

Các hội chứng di truyền phổ biến nhất liên quan đến ung thư đại trực tràng là hội chứng Lynch và hội chứng polyp gia đình (Familial adenomatous Polyposis), các hội chứng hiếm gặp khác cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.

3. Các dấu hiệu nguy cơ ung thư đại tràng

Rối loạn tiêu hóa kéo dài: Bệnh ung thư đại trực tràng có biểu hiện ở mọi bộ phận liên quan đến đường tiêu hóa. Một số dấu hiệu thường gặp như hơi thở hôi, hay ợ hơi, ợ chua, đau tức vùng bụng trước hoặc sau khi ăn. Đau quặn bụng, đau râm ran là biểu hiện của rối loạn tiêu hóa do nhiễm khuẩn. Song một vài trường hợp, nó báo hiệu sự tồn tại của các khối u ở dạ dày – ruột.

Chán ăn, khó tiêu, đầy trướng bụng trên vùng rốn, ăn không ngon là tình trạng thường thấy ở người bệnh ung thư đại tràng. Tình trạng này kéo dài khiến cơ thể mệt mỏi, sút cân.

Người bị ung thư đại trực tràng bị rối loạn tiêu hóa, đi ngoài nhiều lần trong ngày rất giống với triệu chứng bệnh lị. Tuy nhiên, người mắc bệnh lị có thể điều trị bằng cách dùng kháng sinh, còn loại thuốc này không có tác dụng với bệnh nhân ung thư đại trực tràng.

Giảm cân bất thường: Không phải do tập luyện hay ăn kiêng giảm cân mà cơ thể đột ngột sút cân thì bạn cũng không nên coi thường. Rất có thể đó là dấu hiệu của ung thư, nhất là ung thư đại tràng, dạ dày hoặc các bộ phận khác liên quan đến đường tiêu hóa.

Các rối loạn liên quan bài tiết phân: Đại tràng là cơ quan bài tiết phân trong quá trình tiêu hóa, nên ở giai đoạn sớm, người bệnh thường hay bị chứng rối loạn đại tiện, bài tiết phân như đi táo, đi lỏng thất thường, tình trạng này kéo dài.

Ung thư đại trực tràng thường khiến người bệnh đau quặn, mót rặn, khó chịu khi đi ngoài. Khi đi đại tiện, người bệnh thường bị đau quặn, mót rặn, phân nhày mũi máu và phân nát, phân hình lá lúa (do phân phải đi qua khối u), đi xong vẫn muốn rặn tiếp.

Phân mỏng, hẹp so với bình thường: Kích thước của chất thải cũng giúp phát hiện những bất thường trong hệ tiêu hóa. Tình trạng phân mỏng rất có thể do một vật cản giống như một khối u khiến phân bị chặn lại. Nếu phân có kích thước mỏng như một chiếc bút chì hoặc có hình lá lúa do phải đi qua khối u thì cần đề cao cảnh giác.

Xuất hiện máu trong phân: Đại tiện kèm máu đỏ tươi, nhỏ giọt, phủ lên phân. Một số trường hợp, ở giai đoạn cuối bệnh nhân còn thấy hậu môn trực tràng sa xuống, toàn thân gầy đi, số lần đại tiện tăng lên, khi táo bón, khi tiêu chảy.

Đây là triệu chứng phổ biến của căn bệnh song nó không đồng nghĩa mọi trường hợp phân có máu đều do mắc ung thư đại tràng. Nếu mắc bệnh khác như trĩ, nứt hậu môn bạn cũng gặp hiện tượng trên. Cần phân biệt đại tiện ra máu do trĩ thường là máu tươi. Còn bệnh nhân ung thư trực tràng thường xuất huyết dưới dạng máu lẫn với nhầy. Vì máu chảy ở niêm mạc vùng ung thư có thể bị viêm nên tiết nhầy.

Mệt mỏi và suy nhược: đây là triệu chứng phổ biến nhất của ung thư nhưng lại dễ bị bỏ qua nhất. Mệt mỏi do ung thư đại tràng thường liên quan đến thiếu máu do mất máu trong phân. Người bệnh cảm thấy kiệt sức ngay cả khi đã nghỉ ngơi, đồng thời suy nhược cơ thể một cách nhanh chóng mà không rõ nguyên nhân.

Ngoài các triệu chứng nêu trên, khi ung thư muộn thì có người sờ thấy cả khối u nổi ở dưới da bụng, vàng da, bụng to dần…

4. Làm gì để phòng ngừa ung thư đại tràng?

Ung thư đại tràng thường bắt đầu lành tính (gọi là polyp). Polyp không phải là u nhưng là một tổn thương có hình dạng giống như một khối u, có cuống hoặc không, do niêm mạc đại tràng và tổ chức dưới niêm mạc tăng sinh tạo thành. Polyp không phải là ung thư nhưng chúng có thể phát triển thành ung thư sau một thời gian dài.

Kiểm tra đại trực tràng thường xuyên là một trong những cách tốt nhất để phòng tránh ung thư. Polyp tiền ung thư thường không biểu hiện triệu chứng, có thể được tìm thấy qua nội soi đại tràng vài năm trước khi ung thư xâm lấn phát triển. Kiểm tra sàng lọc cũng tìm thấy được polyp tiền ung thư và cắt bỏ trước khi nó trở thành ung thư. Đây được xem là cách phòng bệnh cụ thể nhất.

Ung thư đại tràng có thể phòng tránh được thông qua thói quen ăn uống lành mạnh. Có nhiều yếu tố nguy cơ mà mọi người có thể phòng tránh được như:

Các loại thịt đỏ (thịt bò, thịt cừu) được xem là có liên quan mật thiết đến ung thư đại tràng. Ăn khoảng 160g/ngày hoặc chế độ ăn với thịt quá 5 lần/tuần có nguy cơ cao gấp 3 lần. Dưới hình thức chiên, nướng, thịt xông khói, dăm bông, xúc xích, chất đạm sẽ làm tăng yếu tố sinh ung thư, còn mỡ sẽ bị chuyển hóa bởi vi khuẩn trong lòng ruột, làm tăng sản các tế bào biểu mô bất thường và phát triển thành ung thư. Ăn nhiều thịt, mỡ, đạm, ít chất xơ dễ dẫn đến béo phì và có nguy cơ cao gây ung thư đại tràng, nên cần thay đổi chế độ ăn khoa học hơn để phòng bệnh.

Các thức ăn chứa nhiều chất xơ (rau xanh, trái cây) giúp làm giảm nguy cơ này vì chất xơ giúp gia tăng tiêu thụ acid folic, gia tăng kết hợp chất xơ với các yếu tố sinh ung thư dẫn đến việc loại khỏi lòng ruột sớm vì giảm thời gian ứ đọng phân. Ngoài ra, chất xơ làm giảm pH trong lòng đại tràng và tăng sản xuất các acid béo chuỗi ngắn và yếu tố vi lượng chống hiện tượng ôxy hóa.

Các loại nước uống chứa cồn làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng.

Thuốc lá được biết đến như là những “sát thủ” của bệnh lý tim mạch hay ung thư phổi. Gần đây nó được công nhận là những yếu tố nguy cơ rất quan trọng gây ung thư đại tràng cho cả hai giới, nhất là khi kết hợp với rượu bia.

Hoạt động thể lực, vận động hay luyện tập thể dục sẽ làm giảm nguy cơ mắc ung thư đại tràng.

Theo heochuoi.com/Tổng hợp!

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

TIN MỚI